Đó là một trong những ý kiến mấu chốt của PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, khi nói về giải pháp để công nghiệp văn hóa Việt Nam tăng trưởng 10%/năm, đóng góp 7% GDP.
.Phóng viên: Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành được xác định là có nhiều điểm mới so với chiến lược cũ. Ông có thể chia sẻ rõ thêm về những điểm mới này?

PGS-TS Bùi Hoài Sơn (Ảnh: HOÀNG TRIỀU)
- PGS-TS BÙI HOÀI SƠN: Theo tôi, điểm mới quan trọng nhất của chiến lược lần này nằm ở cách tiếp cận khác so với giai đoạn trước: thay vì "điểm danh" các ngành công nghiệp văn hóa như một danh mục hành chính, chúng ta đã bước sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Một tiết mục tại lễ bế mạc Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ XXIV - năm 2025 do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, phối hợp cùng UBND TP HCM, Cục Điện ảnh, Sở Văn hóa - Thể thao TP HCM,… tổ chức tại TP HCM (Ảnh: QUỐC THẮNG)
Điểm mới nữa là tinh thần "kinh tế hóa tài sản văn hóa", chiến lược yêu cầu khai thác có trách nhiệm, sáng tạo và bền vững nguồn lực văn hóa, gắn với du lịch, thương mại, công nghệ số và thương hiệu vùng miền.
Chiến lược mới không chỉ bổ sung danh mục ngành, mà còn xác lập cách tiếp cận mới: phát triển công nghiệp văn hóa như một chính sách công mang tính tổng hợp, gắn với phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức, kinh tế xanh; đặt trong cấu trúc vận hành của quốc gia đang bước vào giai đoạn tăng tốc, cần những lĩnh vực có sức lan tỏa lớn.
.Vậy những yếu tố nào được coi là then chốt, thưa ông?
- Theo tôi, để đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân 10%/năm và đóng góp 7% GDP như chiến lược đặt ra, thì yếu tố then chốt đầu tiên chắc chắn là nền kinh tế số. Chúng ta đang sống trong thời đại mà tài sản quan trọng nhất của mỗi quốc gia không phải là tài nguyên hữu hạn, mà là nội dung, dữ liệu và chất lượng sáng tạo của con người. Công nghiệp văn hóa bản chất là ngành khai thác tài sản vô hình - từ bản sắc, câu chuyện, di sản, không gian sáng tạo đến nội dung số, bản quyền, thương hiệu - nên càng đi sâu vào kinh tế số, càng dễ tạo ra giá trị gia tăng lớn.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao. Nguồn nhân lực trẻ - am hiểu công nghệ, giàu trí tưởng tượng, có năng lực kể chuyện toàn cầu - là lợi thế đặc biệt của Việt Nam. Nhưng lực lượng này cần một hệ thống đào tạo hiện đại hơn: các trường văn hóa - nghệ thuật phải gắn với doanh nghiệp; các chương trình đào tạo phải đặt công nghệ vào trung tâm; tiêu chuẩn nghề nghiệp phải cập nhật theo UNESCO, WIPO; nghệ sĩ phải được đào tạo về kinh tế sáng tạo, marketing sáng tạo, quản trị thương hiệu.
Bốn là, phát huy vai trò của địa phương, cộng đồng và doanh nghiệp tư nhân. Chiến lược mới xác định rõ: khai thác giá trị văn hóa địa phương là con đường quan trọng nhất để tạo ra sản phẩm độc đáo, có bản sắc và có khả năng xuất khẩu. Điều đó có nghĩa là mô hình phát triển phải dịch chuyển từ "Nhà nước làm hết" sang "Nhà nước kiến tạo - địa phương chủ động - doanh nghiệp dẫn dắt".
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 21-11
"Một nền công nghiệp văn hóa mạnh chỉ hình thành khi xã hội thực sự coi sáng tạo là một ngành kinh tế, không phải hoạt động phong trào.
Link nội dung: https://travelteam.vn/hien-ke-giai-phap-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-nhan-dien-ro-diem-tua-8475.html