
Các võ tăng Thiếu Lâm từ thời xa xưa có thu nhập ổn định dù không kinh doanh, buôn bán - Ảnh: P.N
Vào thời đại ngày nay, chuyện kiếm tiền của những võ phái nổi tiếng như Thiếu Lâm, Võ Đang hay Nga My từ lâu đã được công chúng biết đến rộng rãi.
Các lớp dạy võ, những sô diễn nghìn USD, hay cả bán vật phẩm, quà lưu niệm, mở tour tham quan... là cách mà các võ phái này khuếch trương thương mại, biến thương hiệu võ phái nghìn năm tuổi thành những "cỗ máy kiếm tiền".
Nhưng vào thời xa xưa, cụ thể là thời phong kiến, làm sao để các cao thủ "danh môn chính phái" có thể kiếm sống?
Thiếu Lâm kiếm tiền từ ruộng đất
Thiếu Lâm trước hết là một đại tự viện Phật giáo, vận hành theo mô hình kinh tế phổ biến của chùa chiền Trung Quốc: sở hữu ruộng đất, rừng, các trang thiết bị làm nông và tài sản do hoàng gia, quan lại, thương nhân hoặc tín đồ cúng tặng.
Sử gia Meir Shahar, tác giả công trình nghiên cứu về lịch sử và võ thuật Thiếu Lâm, cho biết chùa từng được cấp một khu điền trang lớn tại Bách Cốc dưới thời Tùy.
Đến đầu nhà Đường, sau khi các tăng nhân giúp lực lượng của Lý Thế Dân trong cuộc chiến chống Vương Thế Sung, quyền sở hữu 40 khoảnh đất cùng một cối xay nước của chùa được triều đình xác nhận.
Cối xay có thể tạo thu nhập từ phí xay bột, còn ruộng được giao cho tá điền hoặc người làm thuê canh tác.

Các võ tăng giúp Thiếu Lâm bảo vệ các vùng đất nông nghiệp của nhà chùa - Ảnh: P.N
Đây là cách nuôi sống tăng chúng tương đối ổn định. Những người tu hành không nhất thiết trực tiếp cày toàn bộ ruộng của chùa.
Tự viện có thể thu tô bằng thóc, tiền hoặc sản vật, đồng thời nhận thêm hương hỏa, lễ vật và tiền công đức. Nghiên cứu về các thiết chế địa phương Trung Quốc cho thấy chùa Phật giáo từng nằm trong số những tổ chức ngoài nhà nước có tài sản lớn nhất, sở hữu đất nông nghiệp, rừng và tham gia nhiều hoạt động tạo thu nhập.
Võ thuật có vai trò gián tiếp nhưng quan trọng trong hệ thống này. Thiếu Lâm sở hữu nhiều điền trang, kho lương và cơ sở nằm tại khu vực từng trải qua chiến tranh, cướp bóc.
Khả năng chiến đấu giúp tăng nhân bảo vệ chùa, giữ đất và hỗ trợ chính quyền trong một số thời kỳ. Đổi lại, chùa nhận được sự công nhận, bảo hộ hoặc ban thưởng từ triều đình.
Đến thời Minh, danh tiếng võ thuật khiến Thiếu Lâm thu hút quân nhân và người luyện võ tìm đến giao lưu, qua đó càng tăng cường danh tiếng của nhà chùa.
Võ Đang - Nga My: sống nhờ... tài trợ
Nếu Thiếu Lâm là một ngôi cổ tự tồn tại theo hình thức tự canh tác nông nghiệp, phái Võ Đang - ra đời từ đầu thời nhà Minh gần giống một hệ thống cung quán Đạo giáo được hoàng gia trực tiếp nâng đỡ.
Minh Thành Tổ Chu Đệ cho xây dựng đạo quán quy mô lớn tại núi Võ Đang, nơi thờ Chân Vũ, vị thần có ý nghĩa đặc biệt đối với tính chính danh của triều đình.
Các đạo sĩ của đạo quán được cấp vật tư, đất đai và điều kiện sinh hoạt để thực hiện các nghi lễ cầu phúc, cầu mưa, chúc thọ hoàng đế hoặc cầu quốc thái dân an.

Võ phái Nga My ngày nay - Ảnh: BAIDU
Các hoàng thân nhà Minh cũng tài trợ việc xây mới, trùng tu đạo quán, hiến đất, tài vật, kinh sách và dựng những “trà am” cho người hành hương nghỉ chân trên núi Võ Đang.
Nghiên cứu của Richard G. Wang về sự bảo trợ Đạo giáo thời Minh cho thấy việc cấp đất và của cải là một phần quan trọng trong quan hệ giữa hoàng tộc với các cơ sở tôn giáo.
Ngoài nguồn triều đình, Võ Đang còn hưởng lợi từ dòng người hành hương. Người đến lễ thần mua hương, xin thực hiện nghi lễ, đóng góp tiền công đức và sử dụng chỗ ăn nghỉ.
Phái Nga My cũng vận hành theo cách tương tự, nhưng cần lưu ý “Nga My phái” trong lịch sử không phải một tổ chức võ thuật thống nhất đặt tổng đàn trên núi.
Nga My thật ra là thánh địa Phật giáo với hơn 30 ngôi chùa quan trọng được xây dựng qua nhiều thời kỳ. Các chùa sống bằng ruộng đất, tiền cúng, sự tài trợ của quan lại, thương nhân, tín đồ và khách hành hương.
Nghề bảo tiêu
Các bộ tiểu thuyết, hoặc phim ảnh võ hiệp gần đúng với đời thật nhất là về giới bảo tiêu. Nghề bảo tiêu phát triển mạnh cùng hoạt động thương mại cuối thời Minh và nhà Thanh.
Thương nhân phải vận chuyển bạc, muối, trà, tơ lụa cùng nhiều loại hàng có giá trị qua những tuyến đường dài, trong khi cướp bóc thường xuyên xảy ra.
Từ nhu cầu này, các tiêu cục hình thành như những công ty bảo vệ và áp tải có tổ chức. Nghiên cứu về tiêu cục miền bắc Trung Quốc xác định mô hình này phát triển từ thế kỷ 17 và được định hình rõ hơn vào giữa đời Thanh.

Nghề bảo tiêu phát triển mạnh dưới thời nhà Thanh - Ảnh: BAIDU
Khách hàng trả phí theo giá trị hàng hóa, độ dài hành trình và mức nguy hiểm của tuyến đường.
Tiêu sư mang vũ khí, đi cùng đoàn xe hoặc thuyền, chịu trách nhiệm đưa người và tài sản đến nơi an toàn. Uy tín là vốn quan trọng nhất: một tiêu cục thất tín hoặc liên tục để mất hàng có thể nhanh chóng mất khách.
Tuy nhiên, bảo tiêu không phải lúc nào cũng mở đường bằng giao chiến. Tiêu cục cần am hiểu địa hình, có mạng lưới quan hệ và nhận biết thế lực hoạt động trên từng tuyến.
Cờ hiệu, tên tuổi của tổng tiêu đầu và quan hệ với các nhóm địa phương đôi khi đủ giúp đoàn hàng tránh bị tấn công. Võ công là điều kiện cần, nhưng thương lượng và danh tiếng cũng quan trọng không kém.
Cũng chính vì vậy, nhiều tiêu cục tìm cách xây dựng quan hệ với những võ phái lớn trong vùng, qua đó giương cao thanh thế. Một số bảo tiêu còn xuất thân từ những môn phái lớn, giúp họ dễ dàng tiến thân trong nghề.