
Bà Tư nay đã hơn 90 tuổi nghỉ ngơi sau một quãng đời dài bán dạo sương sâm và bánh cam - Ảnh: NGUYỄN CỦ CẢI
Tiếng rao của bà Tư không lớn, cũng không réo gọi như những người bán hàng ngoài chợ. Nó nhẹ như một cơn gió trưa lướt ngang qua xóm nhỏ, vậy mà bao năm rồi vẫn nằm đâu đó trong ký ức của biết bao người.
Tiếng rao giữa trưa
"Sương sâm hạt lựu đây… bánh cam đây…".
Bà Tư gánh hai đầu quang gánh đi hết con đường này sang con đường khác. Một đầu gánh là thùng sương sâm xanh mát, đầu kia là rổ bánh cam vàng ruộm thơm lừng.
Mỗi ngày, cứ độ nắng đứng bóng, tiếng rao của bà vang lên giữa xóm lao động nghèo.
Xóm tôi ngày ấy toàn những người làm nghề nặng nhọc. Người đi cạo mủ cao su từ tờ mờ sáng, người làm rẫy, đào giếng, bốc vác thuê. Giữa cái nắng nóng hầm hập, được ăn một ly sương sâm hạt lựu của bà Tư giống như được nhận một phần quà của buổi trưa.
Miếng sương sâm mát lạnh, nước đường thắng thơm mùi gừng, thêm chút nước cốt dừa hạt lựu giòn dai, béo ngậy. Ăn xong thấy người nhẹ nhõm, khoan khoái như vừa được tiếp thêm sức lực.
Còn bánh cam vàng, giòn, phủ mè. Cắn vào nghe rộp nhẹ. Nhân đậu xanh bùi, lớp đường phủ ngoài vỏ bánh ngọt và thơm lừng.
Mỗi món chỉ một ngàn đồng. Đối với đám con nít trong xóm, đó là món quà vặt ngon lành chẳng dễ gì quên được.
Người ta nhớ bà Tư không chỉ vì bánh ngon hay sương sâm mát lành mà vì bà nghèo mà thương trẻ con lắm.
Có những bữa tụi nhỏ đứng nhìn theo quang gánh của bà mà trong túi không có nổi một đồng. Chẳng cần ai nói, bà cười hiền rồi chìa ra cái bánh cam hay ly sương sâm nhỏ làm quà. "Ăn đi con. Bà cho".
Tình thương của bà đơn sơ, nhưng đủ làm ấm lòng cả một tuổi thơ.
Một phần linh hồn xóm nhỏ
Người trong xóm ai cũng biết gia đình bà có nhiều mất mát. Chồng bà từng tham gia kháng chiến chống Mỹ, hy sinh. Cha mẹ bà ngã xuống từ thời chống Pháp. Nhưng chưa bao giờ thấy bà than thở. Bà vẫn lặng lẽ gánh hàng rong nuôi con, đi qua biết bao mùa nắng gió.
Tiếng rao của bà không đơn thuần là tiếng rao bán hàng.
Nó là âm thanh của sự cần cù. Là bóng dáng của một người phụ nữ từng trải qua nhiều đau thương, mất mát nhưng vẫn giữ được tấm lòng nhân hậu.
Là một phần đời sống của xóm nhỏ.
Có những hôm không nghe tiếng rao quen thuộc, đám trẻ trong xóm cứ thấp thỏm hỏi nhau: "Hôm nay bà Tư đâu rồi?".
Người bảo bà đi công chuyện. Người nói bà mệt. Có lần nghe tin bà bệnh, tụi nhỏ cứ ngóng ra đầu đường như chờ một người thân đi xa trở về.
Rồi năm tháng cũng dần phủ bạc mái đầu người phụ nữ ấy. Đôi vai từng gánh quang gánh đi khắp xóm không còn đủ sức để tiếp tục những chuyến rong ruổi mỗi ngày.
Một ngày nọ, bà Tư thôi bán dạo.
Xóm nhỏ không còn tiếng rao, tiếng quang gánh, không còn mùi bánh cam mới chiên thơm lừng qua ngõ. Sương sâm không còn lấp lánh trong nắng. Bỗng thấy thiếu đi một điều gì đó quen thuộc.
Người lớn gặp nhau lại hỏi: "Bà Tư Cam (bán bánh cam) dạo này sao rồi?"
Rồi mọi người thông tin cho nhau, bà đã về sống cùng con cháu ở Củ Chi. Năm nay bà đã ngoài 90 tuổi, vẫn còn rất minh mẫn. Nhắc tới xóm cũ, bà nhớ từng đứa trẻ, nhớ tên, nhớ nhà, nhớ cả những chuyện rất nhỏ.
Những đứa trẻ từng lớn lên trong tiếng rao ấy giờ đã thành ông, thành bà có con có cháu. Nhưng mỗi lần nhắc đến bà Tư là nhớ về một khoảng trời tuổi thơ ngọt ngào. Có dịp là ghé nhà bà thăm hỏi, chuyện trò như thăm một người ruột thịt.
Thương bà Tư bởi sự thơm thảo, nhân từ và cả những nỗi đau mất mát của cuộc đời.
Để rồi, mỗi khi bất chợt nghe đâu đó một tiếng rao giữa trưa, lòng người lại bâng khuâng nhớ về bà Tư cùng quang gánh nhỏ, như nhớ về một thời nghèo khó đậm nghĩa, đậm tình.