Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Úc: Bệ phóng cho hợp tác khoa học - công nghệ

Giáo sư Nguyễn Thành Vinh, Đại học New South Wales (Úc), tin rằng người trẻ Việt Nam rất giỏi giang. Khoảng cách lớn nhất giữa Việt Nam với một số nước nằm ở tính ổn định và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái khoa học.
 - Ảnh 1.

Giáo sư Nguyễn Thành Vinh (thứ ba từ phải sang) cùng các thành viên của Nguyen Lab tại Đại học New South Wales năm 2020 - Ảnh: X/@NguyenLabUNSW

Từ ngày 9 đến ngày 12-8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Úc trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước.

Trước thềm chuyến thăm, Tuổi Trẻ đã có cuộc trò chuyện với giáo sư Nguyễn Thành Vinh, một trong những nhà khoa học người Việt nổi bật tại xứ chuột túi, từng được vinh danh là nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất năm 2025 ở chuyên ngành hóa học hữu cơ. Ông cũng được Hội Hóa học Hoàng gia Úc trao Huy chương Mary Garson, một ghi nhận đáng giá về mặt chuyên môn.

Từ phòng thí nghiệm chung Việt Nam - Úc đến hệ sinh thái khoa học bền vững

* Chuyến thăm Úc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự kiến sẽ đẩy mạnh hợp tác khoa học - công nghệ giữa hai nước. Với tư cách một nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại một trong những trường đại học hàng đầu Úc, ông kỳ vọng điều gì từ các thỏa thuận sắp được ký kết? Và ông thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay giữa hai nền khoa học là gì? Làm thế nào để hai bên rút ngắn được khoảng cách đó?

- Giáo sư Nguyễn Thành Vinh: Tôi kỳ vọng các thỏa thuận sắp tới sẽ tạo ra những cơ chế hợp tác có thời hạn đủ dài, nguồn lực đủ tập trung và kết quả có thể đo lường được, thay vì chỉ dừng lại ở các biên bản ghi nhớ hoặc những chuyến thăm ngắn hạn.

Hai nước có thể ưu tiên một số mô hình cụ thể như phòng thí nghiệm chung, chương trình đồng hướng dẫn tiến sĩ, học bổng trao đổi hai chiều, tài trợ song phương cho các nhóm nghiên cứu và cơ chế để doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu. Những lĩnh vực có tính bổ trợ cao giữa Úc và Việt Nam có thể bao gồm năng lượng sạch, chuyển hóa chất thải, công nghệ y sinh, vắc xin, nông nghiệp, tài nguyên và khoáng sản quan trọng.

Chương trình Hợp tác Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Úc - Việt Nam vừa được triển khai là một tín hiệu rất tích cực. Tuy nhiên để tạo ra ảnh hưởng lâu dài, những chương trình như vậy cần được duy trì qua nhiều vòng tài trợ, có lộ trình tiếp nối cho những dự án thành công và hỗ trợ cả giai đoạn chuyển từ nghiên cứu sang ứng dụng.

Theo tôi, khoảng cách lớn nhất không nằm ở trí tuệ hay khả năng của các nhà khoa học Việt Nam. Việt Nam có rất nhiều người trẻ giỏi giang, chăm chỉ và có khát vọng. Khoảng cách chủ yếu nằm ở tính ổn định và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái khoa học: nguồn tài trợ dài hạn, khả năng tiếp cận thiết bị, đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp, quản trị nghiên cứu, cơ chế mua sắm, sự liên kết với doanh nghiệp và mức độ tự chủ của các nhóm khoa học.

Để rút ngắn khoảng cách, không thể chỉ gửi thêm sinh viên ra nước ngoài hoặc mua thêm thiết bị. Cần xây dựng các trung tâm nghiên cứu mạnh tại Việt Nam, trao cho họ đủ quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình, đồng thời tạo điều kiện để họ tham gia vào các chương trình quốc tế với tư cách đối tác thực sự.

* Ông từng nói rằng vai trò của nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là chuyển giao kỹ thuật, mà quan trọng hơn là chuyển giao văn hóa học thuật và chuẩn mực quốc tế. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về ý này, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang muốn xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu bền vững?

Kỹ thuật có thể được học qua một khóa đào tạo, một chuyến trao đổi hoặc một tài liệu hướng dẫn. 

Nhưng để hình thành một nền khoa học vững, mạnh và bền, điều quan trọng hơn là cách chúng ta đặt câu hỏi nghiên cứu, đánh giá dữ liệu và kết quả, tổ chức hợp tác đa ngành và đào tạo những thế hệ tài năng tiếp theo.

Văn hóa học thuật trước hết là tôn trọng sự thật. Khi kết quả không phù hợp với giả thuyết ban đầu, nhà khoa học phải sẵn sàng thay đổi kết luận thay vì lựa chọn những dữ liệu thuận lợi cho mình. Kết quả phải có khả năng lặp lại; dữ liệu phải được lưu trữ đầy đủ; đóng góp của từng thành viên phải được ghi nhận công bằng; và người trẻ phải có quyền phản biện ý tưởng của người có chức danh cao hơn.

Văn hóa học thuật cũng bao gồm cách chúng ta nhìn nhận thất bại. Một thí nghiệm không thành công vẫn có giá trị nếu nó giúp loại bỏ một giả thuyết hoặc chỉ ra một hướng tiếp cận mới. 

Nếu hệ thống chỉ đánh giá nhà khoa học bằng số lượng bài báo và những kết quả ngắn hạn, người làm nghiên cứu sẽ ít có động lực theo đuổi các câu hỏi khó và có rủi ro cao, nhưng có ý nghĩa lâu dài hơn nhiều việc ăn xổi ở thì.

Các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng vai trò cầu nối bằng cách đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng dự án chung, chia sẻ quy trình quản trị dữ liệu, phản biện đề tài, hỗ trợ phát triển phòng thí nghiệm và kết nối đồng nghiệp trong nước với mạng lưới quốc tế. 

Tuy nhiên sự hợp tác cần bình đẳng và lâu dài. Các nhà khoa học trong nước không nên chỉ là người cung cấp mẫu, dữ liệu hay nhân lực cho một dự án được thiết kế hoàn toàn ở nước ngoài.

Một hệ sinh thái bền vững phải giúp các nhà khoa học tại Việt Nam từng bước chủ trì câu hỏi nghiên cứu, quản lý nguồn lực, sở hữu tri thức được tạo ra và đào tạo thế hệ tiếp theo ngay tại Việt Nam. 

Tôi thực sự tin rằng những đồng nghiệp của tôi ở trong nước thừa khả năng trí tuệ để làm điều đó và làm tốt không kém, thậm chí hơn chúng tôi ở nước ngoài, vì trong nước có nguồn nhân lực dồi dào và cực kỳ năng động, chịu khó.

Nếu hệ thống chỉ đánh giá nhà khoa học bằng số lượng bài báo và những kết quả ngắn hạn, người làm nghiên cứu sẽ ít có động lực theo đuổi các câu hỏi khó và có rủi ro cao, nhưng có ý nghĩa lâu dài hơn nhiều việc ăn xổi ở thì.
 - Ảnh 3.Giáo sư Nguyễn Thành Vinh

Hành trình hơn 20 năm và động lực nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Thành Vinh

 - Ảnh 4.

Giáo sư Nguyễn Thành Vinh - Ảnh: Đại học New South Wales

* Ông từng đoạt á quân Đường lên đỉnh Olympia năm 2000, rồi được vinh danh là Nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất Úc trong lĩnh vực hóa hữu cơ năm 2025. Điều gì trong hành trình ấy khiến ông cảm thấy khó khăn nhất, và điều gì khiến ông vẫn giữ được đam mê sau hơn 20 năm?

Điều khó khăn nhất đối với tôi không phải là một kỳ thi, một thí nghiệm hay một thời điểm cụ thể, mà là duy trì sự kiên định trong một nghề nghiệp luôn chứa đựng rất nhiều điều bất định.

Trong nghiên cứu khoa học, có những đề tài chúng tôi dành nhiều tháng, thậm chí nhiều năm theo đuổi, nhưng cuối cùng không đi đến kết quả như mong muốn. Một bài báo có thể bị từ chối, một đề xuất tài trợ có thể không thành công, còn một ý tưởng tưởng chừng rất hay trên giấy lại hoàn toàn không hoạt động trong phòng thí nghiệm. 

Khi bắt đầu xây dựng nhóm nghiên cứu độc lập, tôi cũng phải tự mình học cách đồng thời làm nhà khoa học, người thầy, người quản lý, người tìm kiếm tài trợ và người chịu trách nhiệm về sự phát triển nghề nghiệp của các thành viên trong nhóm.

Điều giúp tôi duy trì đam mê là khoa học luôn còn những câu hỏi chưa có lời giải. Cảm giác quan sát được một hiện tượng mới, hiểu được một phản ứng mà trước đó chưa ai giải thích rõ, hoặc nhìn thấy một nghiên cứu sinh trong nhóm dần trưởng thành nhà nghiên cứu độc lập vẫn mang lại cho tôi sự hào hứng tươi mới như những ngày đầu.

Sau hơn 20 năm, động lực công việc của tôi cũng đã thay đổi một chút. Khi còn trẻ, tôi muốn chứng minh rằng mình có thể làm được những cái rất mới và rất nhiều thử thách. Hiện nay, điều quan trọng hơn là ứng dụng khoa học vào cải tiến chất lượng cuộc sống của con người, đồng thời xây dựng một môi trường để những người trẻ hơn có thể làm tốt hơn và đi xa hơn thế hệ của mình.

* Nghiên cứu của ông tập trung vào organocatalysis và các phản ứng hóa học mới. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, ông thấy những hướng nghiên cứu này có thể đóng góp gì thiết thực cho Việt Nam, ngoài các bài báo quốc tế?

Các phương pháp tổng hợp hóa học mới có thể được xem như những công cụ nền tảng. Khi có một công cụ tốt hơn, chúng ta có thể tạo ra dược phẩm, vật liệu chức năng, hóa chất nông nghiệp và nhiều sản phẩm có giá trị theo cách nhanh hơn, ít chất thải hơn và an toàn hơn.

Organocatalysis sử dụng các phân tử hữu cơ nhỏ để thúc đẩy phản ứng hóa học, trong nhiều trường hợp có thể giảm sự phụ thuộc vào kim loại quý hoặc kim loại độc hại. Các phản ứng có thể được thực hiện trong điều kiện nhẹ hơn, từ những nguyên liệu dễ tiếp cận hơn và tạo ra ít chất thải hơn. Đây là những yếu tố có ý nghĩa đối với một nền công nghiệp hóa chất và dược phẩm đang phát triển như Việt Nam.

Tuy nhiên đóng góp thực tế sẽ không tự động xuất hiện sau khi một bài báo được công bố. Ngay từ đầu, nhà khoa học cần xác định vấn đề mà doanh nghiệp, bệnh viện hoặc xã hội đang cần giải quyết; xây dựng các tiêu chí kỹ thuật có thể đo lường; quan tâm đến sở hữu trí tuệ và mời đơn vị sử dụng công nghệ tham gia đủ sớm.

Trong nhóm nghiên cứu của mình, bên cạnh nghiên cứu cơ bản, chúng tôi đang phát triển các phương pháp chỉnh sửa cấu trúc phân tử để tạo ra những ứng viên dược phẩm mới, vật liệu xanh có khả năng tự phân hủy sinh học, hệ thống truyền dẫn thuốc tại chỗ và các quá trình chuyển hóa chất thải thành sản phẩm có giá trị.

Tôi cho rằng Việt Nam có thể lựa chọn một số bài toán cụ thể mà mình vừa có nhu cầu lớn, vừa có lợi thế về nguyên liệu và nhân lực, rồi xây dựng chuỗi nghiên cứu từ hóa học nền tảng đến quy trình, nguyên mẫu và chuyển giao.

Trao quyền và tin tưởng người trẻ làm khoa học

 - Ảnh 5.

Giáo sư Nguyễn Thành Vinh và các học trò - Ảnh: X/@NguyenLabUNSW

* Nhiều sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam đang theo đuổi con đường khoa học ở Úc. Theo ông, điều quan trọng nhất mà thế hệ trẻ cần trang bị để có thể cạnh tranh và tạo dấu ấn trên bản đồ khoa học quốc tế là gì? Lời khuyên nào ông muốn gửi đến họ?

Kiến thức chuyên môn và ngoại ngữ là những điều kiện cần, nhưng điều quyết định một nhà khoa học có thể đi xa hay không là khả năng tư duy độc lập.

Một người trẻ không nên chỉ học cách thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Các bạn cần học cách nhận ra một vấn đề quan trọng, đặt câu hỏi đúng, phân biệt giữa giả định và bằng chứng, đồng thời có đủ tự tin để bảo vệ quan điểm của mình. 

Tuy nhiên tư duy độc lập không có nghĩa là làm việc đơn độc. Khoa học hiện đại đòi hỏi khả năng hợp tác, giao tiếp với những người thuộc các chuyên môn và nền văn hóa khác nhau, cũng như sẵn sàng tiếp nhận phản biện.

Tôi thường nhắc các nghiên cứu sinh của mình về ba phẩm chất: liêm chính, độc lập và kiên định. Liêm chính để không thỏa hiệp với sự thật; độc lập để không chỉ đi theo những con đường đã có sẵn; và kiên định để tiếp tục khi thí nghiệm thất bại, bài báo bị từ chối hay đề xuất tài trợ không thành công.

Các bạn trẻ cũng không nên coi số lượng công bố hoặc tên tuổi của tạp chí là thước đo duy nhất. Một sự nghiệp khoa học có ý nghĩa được tạo nên bởi chất lượng của câu hỏi, độ tin cậy của kết quả, những người mình đã đào tạo và giá trị mà công việc của mình mang lại cho cộng đồng.

Các bạn trẻ cũng không nên coi số lượng công bố hoặc tên tuổi của tạp chí là thước đo duy nhất. Một sự nghiệp khoa học có ý nghĩa được tạo nên bởi chất lượng của câu hỏi, độ tin cậy của kết quả, những người mình đã đào tạo và giá trị mà công việc của mình mang lại cho cộng đồng.

* Nếu được chọn một điều duy nhất mà ông muốn "mang về" cho nền khoa học Việt Nam từ những năm tháng làm việc tại Úc, đó sẽ là điều gì và vì sao?

Nếu chỉ được chọn một điều, tôi muốn mang về một nền văn hóa khoa học dựa trên niềm tin: tin tưởng vào người làm nghiên cứu, đặc biệt là những người trẻ, và trao cho họ quyền tự chủ để theo đuổi những câu hỏi quan trọng.

Niềm tin đó không phải là sự buông lỏng quản lý. Nó phải đi cùng liêm chính, trách nhiệm giải trình, phản biện minh bạch và những tiêu chuẩn nghiêm túc về chất lượng. Nhưng khi một nhà khoa học đã chứng minh được năng lực, họ cần có không gian để thử nghiệm những ý tưởng mới, kể cả những ý tưởng có thể thất bại.

Thiết bị hiện đại rất quan trọng, nguồn tài trợ cũng rất quan trọng, nhưng cuối cùng con người mới tạo ra tri thức. Một phòng thí nghiệm có thể mua được máy móc tốt nhất nhưng khó tạo ra đột phá nếu người trẻ không được phép đặt câu hỏi, không được khuyến khích phản biện hoặc luôn phải lựa chọn những đề tài an toàn để đáp ứng các chỉ tiêu ngắn hạn.

Tôi mong muốn đóng góp vào việc xây dựng những môi trường như vậy tại Việt Nam thông qua đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu, kết nối với công nghiệp và chia sẻ những chuẩn mực học thuật quốc tế. Khi người trẻ được tin tưởng, được đào tạo tốt và được đánh giá công bằng, họ không chỉ tạo ra các công trình tốt hơn mà còn trở thành những người tiếp tục xây dựng hệ sinh thái cho thế hệ sau.

 - Ảnh 6.

Giáo sư Nguyễn Thành Vinh tại Đức năm 2024 - Ảnh: X/@NguyenLabUNSW

* Việc được tờ The Australian vinh danh là Nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực của mình mang ý nghĩa gì với ông? Đó là sự công nhận cá nhân, hay ông nhìn nhận nó như một tín hiệu về vị thế ngày càng tăng của cộng đồng khoa học Việt Nam tại Úc?

- Tôi rất trân trọng sự ghi nhận này, nhưng cũng nhìn nhận nó một cách tỉnh táo. Bảng xếp hạng của tờ The Australian chủ yếu dựa trên ảnh hưởng trích dẫn của các công trình được công bố trong một nhóm tạp chí hàng đầu trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy nó chỉ phản ánh một khía cạnh nhỏ của hoạt động nghiên cứu, nhưng không phải là thước đo đầy đủ cho giá trị của một nhà khoa học.

Trong năm vừa qua tôi cũng được Hội Hóa học Hoàng gia Úc trao Huy chương Mary Garson (dành cho nhà hóa học hữu cơ ở lứa tuổi trung niên - tính trong vòng 15 năm sau khi tốt nghiệp tiến sĩ - xuất sắc nhất trong hai năm vừa qua).

Đây là một ghi nhận đáng giá hơn nhiều về mặt chuyên môn, nhưng cũng như thí sinh giành giải nhất Đường lên đỉnh Olympia lại nổi tiếng hơn thí sinh giành huy chương vàng Olympic Hóa học quốc tế, các ghi nhận thuần chuyên môn không quá được công chúng nhớ đến.

Đối với tôi, sự ghi nhận này trước hết thuộc về các nghiên cứu sinh, cộng sự và đồng nghiệp đã cùng tôi thực hiện những công trình trong nhiều năm. Trong khoa học thực nghiệm, gần như không có thành tựu nào thực sự là sản phẩm của một cá nhân. Đằng sau mỗi bài báo là rất nhiều thí nghiệm thất bại, những cuộc tranh luận, sự kiên trì và đóng góp của cả một tập thể.

Tôi cũng rất vui vì ngày càng có nhiều nhà khoa học gốc Việt được ghi nhận ở nhiều lĩnh vực khác nhau tại Úc. Nhiều người trong đó tôi phải khâm phục vì tầm nhìn, trí tuệ và các đóng góp cho khoa học, cộng đồng. Họ giỏi hơn tôi nhiều, nhưng thầm lặng. Điều đó cho thấy cộng đồng người Việt không chỉ hội nhập mà đang từng bước đảm nhận vai trò dẫn dắt trong các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ.

Tuy nhiên tôi không muốn từ thành công của một vài cá nhân mà đưa ra một kết luận quá rộng. Điều quan trọng hơn là những sự ghi nhận như vậy có thể giúp các bạn trẻ Việt Nam tin rằng xuất phát điểm không quyết định giới hạn của mình. Một người trẻ đến từ Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia và dẫn dắt những hướng nghiên cứu ở cấp độ quốc tế, nếu được trao cơ hội và có đủ sự chuẩn bị, kiên trì.