Vụ buôn bán nắp lưng điện thoại Apple bị khởi tố: Cần phân biệt với hàng giả, hàng nhái

Theo luật sư, nếu người kinh doanh sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ mà không được chủ sở hữu cho phép và hành vi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 226 Bộ luật Hình sự thì có thể xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Luật sư phân tích yếu tố pháp lý trong vụ khởi tố người buôn bán nắp lưng điện thoại Apple  - Ảnh 1.

Hình ảnh liên quan đến vụ án xảy ra tại hộ kinh doanh Thắng Trần Mobile - Ảnh: Công an tỉnh Hưng Yên

Mới đây, Công an tỉnh Hưng Yên cho biết Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can Phùng Thị Nhung (sinh năm 1989, ở phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên) về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, quy định tại khoản 2, Điều 226 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra xác định từ tháng 12-2025 đến ngày 30-5-2026, Phùng Thị Nhung có hành vi buôn bán nắp lưng điện thoại mang nhãn hiệu Apple để sửa chữa, thay thế cho khách hàng. Đây được xác định là thương hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam.

Tổng giá trị hàng hóa vi phạm là trên 550 triệu đồng, theo Công an tỉnh Hưng Yên.

4 yếu tố pháp lý

Từ góc độ pháp lý, luật sư Hồ Bích Phương (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) cho biết có 4 yếu tố liên quan cần chú ý.

Thứ nhất, khách thể của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu, quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của cá nhân, pháp nhân được pháp luật quy định và bảo vệ.

Pháp luật sở hữu trí tuệ quy định quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Như vậy, nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ.

Trong vụ việc này, nhãn hiệu Apple được xác định là nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam. Vì vậy, nếu người kinh doanh sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ mà không được chủ sở hữu cho phép và hành vi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 226 Bộ luật Hình sự thì có thể xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Thứ hai, về mặt khách quan, trong vụ việc này, Phùng Thị Nhung đã có hành vi bán các nắp lưng điện thoại mang nhãn hiệu Apple để sửa chữa, thay thế cho khách hàng.

Theo thông tin được công bố, tổng giá trị hàng hóa vi phạm là trên 550 triệu đồng. Trường hợp số hàng hóa này được xác định là hàng hóa vi phạm theo quy định của pháp luật thì đã vượt mức 500 triệu đồng, là căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, chủ thể của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Thứ tư, về mặt chủ quan, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện với lỗi cố ý. Do đó cần xác định người thực hiện hành vi có nhận thức được việc sử dụng, mua bán hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhưng vẫn cố ý thực hiện hay không.

Trong trường hợp chứng minh được đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, với giá trị hàng hóa vi phạm trên 550 triệu đồng, người phạm tội có thể phải chịu mức hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự là phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỉ đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Cần phân biệt tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với sản xuất, buôn bán hàng giả

Theo luật sư Diệp Năng Bình (Đoàn luật sư TP.HCM), về bản chất pháp lý, để xác định một sản phẩm có phải là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hay không, cần xem xét dấu hiệu được gắn trên sản phẩm và quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu.

Nếu trên sản phẩm đó có sử dụng nhãn hiệu hoặc dấu hiệu trùng, tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ và việc sử dụng đó không được cho phép thì sản phẩm đó được coi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

Khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ quy định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì có gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu, tem, nhãn chứa dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ, dùng cho chính mặt hàng đó mà không được chủ sở hữu cho phép.

Vì vậy, cần tránh cách gọi chung chung là "hàng nhái". "Hàng nhái" chủ yếu là cách gọi thông dụng để chỉ những sản phẩm được làm giống hàng chính hãng nhưng không phải là một thuật ngữ pháp lý độc lập để xác định tội phạm.

Điểm đáng chú ý trong vụ án này là Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định riêng về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Điều luật này xử lý hành vi cố ý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại, hoặc đạt các ngưỡng về thu lợi bất chính, thiệt hại hoặc giá trị hàng hóa vi phạm.

Luật sư Bình cũng nhấn mạnh cần phân biệt với Điều 192 Bộ luật Hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

"Không nên mặc nhiên áp dụng Điều 192 chỉ vì sản phẩm là hàng không chính hãng", ông nói, đồng thời cho biết đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, pháp luật sở hữu trí tuệ đã xác định đây là một dạng hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ, và Bộ luật Hình sự có điều khoản chuyên biệt là Điều 226 về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Vì vậy, khi xác định bản chất pháp lý của sản phẩm giả, phải xem xét trước hết các dấu hiệu của hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và Điều 226, thay vì đồng nhất mọi loại "hàng giả" với Điều 192.

Nhìn rộng hơn, vụ việc cho thấy "hàng giả", "hàng nhái" và "hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" không phải ba khái niệm đồng nhất.

"Hàng nhái" là cách gọi phổ biến; "hàng giả mạo nhãn hiệu" là khái niệm pháp lý được Luật Sở hữu trí tuệ định nghĩa cụ thể; còn khi hành vi cố ý kinh doanh loại hàng hóa này đạt các điều kiện luật định thì có thể cấu thành tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226 Bộ luật Hình sự.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề