Đại hội Thể thao toàn quốc 2026: Khoa học thể thao đã giúp vận động viên bứt phá thế nào?

Từ thể dục dụng cụ, đua thuyền cho đến cờ vua, những người trong cuộc đang cảm nhận rõ sự thay đổi mà khoa học thể thao mang lại.
Khoa học thể thao đã giúp họ bứt phá thế nào? - Ảnh 1.

Các VĐV Việt Nam phát triển mạnh mẽ nhờ yếu tố khoa học công nghệ ngày càng được cải thiện - Ảnh: HUY ĐĂNG

Không chỉ giúp VĐV nâng cao thành tích, những tiến bộ về công nghệ, dinh dưỡng và y học còn góp phần kéo dài sự nghiệp, tạo nền tảng cho thể thao Việt Nam vươn xa.

Khoa học thể thao tạo nên sự khác biệt

Tại Asiad 20 vừa qua, đội thuyền bốn nam rowing Việt Nam với các tay chèo TP.HCM đã giành HCĐ lịch sử. Trong cuộc đua ngày 24-9, họ cạnh tranh quyết liệt với các đối thủ hàng đầu châu lục, trong đó có Trung Quốc, trước khi cán đích với thành tích 5 phút 54 giây 40.

Chứng kiến cuộc đua, ông Hoàng Đức Tân, Giám đốc Trung tâm Thể thao dưới nước TP.HCM, không khỏi suy nghĩ về khoảng cách giữa VĐV Việt Nam với các cường quốc thể thao.

Theo ông Tân, các tay chèo Việt Nam đã có thời điểm bám đuổi quyết liệt đối thủ Trung Quốc, nhưng không thể duy trì lợi thế ở những mét cuối. Ông cho rằng sự khác biệt không đơn thuần nằm ở sức vóc, mà còn liên quan đến trình độ ứng dụng khoa học, y học thể thao và dinh dưỡng trong huấn luyện.

Khoa học thể thao đã giúp họ bứt phá thế nào? - Ảnh 2.

VĐV thể dục dụng cụ Nguyễn Văn Khánh Phong - Ảnh tư liệu

"Khoa học công nghệ chính là 'chìa khóa vàng' giúp hóa giải bất lợi về thể trạng và nâng tầm thể thao", ông Tân nhận xét.

Theo ông, điều này đặc biệt quan trọng với những môn đòi hỏi sức bền và khối lượng vận động lớn như bơi, rowing hay canoeing. Khoa học giúp chuyển những nỗ lực thể chất thành các thông số có thể phân tích, từ đó tối ưu kỹ thuật và hiệu quả tập luyện.

Việc đánh giá thể hình, tố chất và thể lực cũng cần được thực hiện ngay từ khâu tuyển chọn VĐV trẻ, làm cơ sở xây dựng kế hoạch huấn luyện dài hạn.

"Nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm và thể hình bẩm sinh, chúng ta sẽ rất khó cạnh tranh ở các đấu trường lớn", ông Tân nhấn mạnh.

Cùng chung quan điểm, HLV trưởng đội tuyển thể dục dụng cụ Việt Nam Trương Minh Sang nhìn nhận những tiến bộ trong khoa học thể thao đã làm thay đổi đáng kể cách huấn luyện VĐV.

Xuất thân trong hoàn cảnh khó khăn, ông Sang từng giành nhiều HCV cho thể dục dụng cụ Việt Nam trước khi giải nghệ năm 2012 và chuyển sang công tác huấn luyện. Dù thường xuyên làm việc tại Hà Nội cùng đội tuyển quốc gia, ông vẫn thuộc biên chế TP.HCM.

Ông Sang cho biết từ thời mình còn thi đấu, các VĐV đã nhận được sự quan tâm, đầu tư của thành phố. Tuy nhiên, điều kiện dành cho những thế hệ sau ngày càng được cải thiện, đặc biệt là cơ hội tập huấn dài hạn ở nước ngoài.

Nhờ đó, nhiều tài năng trẻ trưởng thành, trở thành trụ cột đội tuyển quốc gia và mang về thành tích cho thể thao TP.HCM.

Không chỉ đầu tư ra nước ngoài, theo ông Sang, ngành thể thao TP.HCM còn liên tục cập nhật kiến thức, phương pháp huấn luyện mới. Điều này giúp HLV thay đổi tư duy, xây dựng giáo án khoa học hơn, đồng thời quan tâm đến dinh dưỡng, y học và phục hồi thể lực.

Những yếu tố ấy góp phần giúp VĐV phát triển chuyên môn bền vững, thay vì chỉ tập trung vào khối lượng vận động hay thành tích trước mắt.

Đầu tư cho tương lai từ hôm nay

Từ kinh nghiệm từng được tập huấn tại Nhật Bản, ông Trương Minh Sang đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của điều kiện ăn ở, tập luyện và phục hồi đối với sự trưởng thành của VĐV.

Ông lấy ví dụ về VĐV Lê Thanh Tùng, người từng được TP.HCM đưa sang Trung Quốc đào tạo từ nhỏ và sau đó đạt nhiều thành tích quốc tế. Tương tự, anh em nhà Yulo của Philippines cũng được hưởng lợi từ quá trình tập luyện tại Nhật Bản.

Hiện thể dục dụng cụ TP.HCM sở hữu những gương mặt chất lượng như VĐV Đặng Ngọc Xuân Thiện và Nguyễn Văn Khánh Phong. Tuy nhiên, ông Sang cho rằng cần chuẩn bị lực lượng kế cận ngay từ bây giờ.

Khoa học thể thao đã giúp họ bứt phá thế nào? - Ảnh 3.

Đội rowing của TP.HCM làm nên chiến tích tại Asiad - Ảnh: QUÝ LƯỢNG

"Không nên đầu tư dàn trải mà lựa chọn 1, 2 VĐV trọng điểm và cho đi tập huấn nước ngoài từ sớm", ông đề xuất.

Theo ông Sang, duy trì vị thế hàng đầu ở các giải trong nước là chưa đủ. Bài toán quan trọng hơn là xây dựng những thế hệ VĐV đủ sức cạnh tranh ở đấu trường quốc tế. Muốn vậy, ngoài đào tạo kỹ thuật, thành phố cần tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực chuyên trách về phục hồi, nhằm hạn chế quá tải, phòng ngừa chấn thương.

Đây cũng là trăn trở của ông Hoàng Đức Tân.

Theo ông, một trung tâm thể thao dưới nước lớn cần tăng cường ứng dụng y sinh học thể thao, phân tích dữ liệu và chuyển đổi số trong huấn luyện. Đây không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc để hướng tới thành tích cao.

Tuy nhiên, ông thừa nhận đơn vị vẫn thiếu nhân lực về khoa học thể thao, dinh dưỡng, y học và phục hồi. Trong khi đó, những yếu tố quyết định hiệu quả tập luyện đôi khi không thể nhận biết bằng mắt thường, mà cần chuyên gia phân tích các chỉ số chuyên môn.

Để khắc phục, ông đề xuất có chính sách học bổng, đào tạo chuyên sâu cho những VĐV tài năng sau khi kết thúc sự nghiệp, giúp họ chuyển sang nghiên cứu và làm việc trong lĩnh vực khoa học thể thao.

Bên cạnh đó, cần điều chỉnh lịch thi đấu trong nước, tránh để việc tham dự quá nhiều giải, nhiều nội dung ảnh hưởng đến kế hoạch huấn luyện dài hạn. Các đội tuyển nên tập trung vào những giải trọng điểm, hướng đến mục tiêu lớn như Asiad 21.

Ông Tân cũng mong muốn có cơ chế phối hợp giữa cơ quan thể thao trung ương và địa phương trong sử dụng ngân sách, tổ chức tập huấn nước ngoài, đầu tư cơ sở hạ tầng và tuyển dụng chuyên gia phục hồi, trị liệu chấn thương.

Kỳ thủ cũng cần khoa học thể thao

Một minh chứng khác cho sự phát triển của khoa học thể thao đến từ môn cờ vua, nơi VĐV không phải vận động mạnh nhưng vẫn chịu áp lực lớn về thể chất và tinh thần.

TS Nguyễn Trà Giang, Phó chủ tịch Liên đoàn Cờ Việt Nam, cho biết liên đoàn đang phối hợp với một nhà tài trợ để hỗ trợ các kỳ thủ đội tuyển quốc gia rèn luyện thể lực và phục hồi.

"Một ván cờ có thể kéo dài nhiều giờ, đòi hỏi sự tập trung, tính toán và đưa ra quyết định liên tục. Khi thi đấu nhiều ngày, kỳ thủ cần sức bền để duy trì phong độ và phục hồi tốt trước mỗi ván tiếp theo.

Vì vậy, chương trình tập luyện chú trọng cải thiện sức bền, sức mạnh cơ bắp, khả năng vận động linh hoạt, đồng thời quan tâm đến giấc ngủ, nghỉ ngơi và tâm lý sau mỗi trận thắng, thua", TS Trà Giang nói.

Khoa học thể thao đã giúp họ bứt phá thế nào? - Ảnh 4.

Tiến sĩ Nguyễn Trà Giang - Phó chủ tịch Liên đoàn Cờ Việt Nam - Ảnh: NVCC

Theo đó, mỗi kỳ thủ được Liên đoàn Cờ Việt Nam định hướng tập luyện phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và lịch thi đấu. Việc huy động nguồn lực từ nhà tài trợ cũng giúp liên đoàn có thêm điều kiện về cơ sở vật chất và hướng dẫn chuyên môn, đồng thời khuyến khích phụ huynh quan tâm hơn đến thể chất của những tài năng cờ vua trẻ.

Nhìn rộng hơn, TS Trà Giang đánh giá Việt Nam đã có chuyển biến tích cực trong ứng dụng khoa học thể thao, từ phân tích dữ liệu đến chăm sóc sức khỏe VĐV, nhưng cũng lưu ý công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được kết hợp với kiến thức chuyên môn.

"Thiết bị có thể ghi nhận nhịp tim hoặc khối lượng vận động, nhưng cần người có chuyên môn giải thích các chỉ số ấy", TS Trà Giang nói.

Chẳng hạn, dữ liệu phải giúp xác định VĐV đang tiến bộ, chưa hồi phục hay cần điều chỉnh giáo án. Vì thế, đầu tư máy móc phải đi đôi với đào tạo nhân lực và tăng cường phối hợp giữa HLV, bác sĩ, chuyên gia thể lực, dinh dưỡng.

"Không nhất thiết nơi nào cũng phải có thiết bị đắt tiền mới có thể ứng dụng khoa học thể thao", TS Trà Giang khẳng định.

Theo đó, điều quan trọng là đánh giá thể trạng, theo dõi tập luyện và điều chỉnh thường xuyên trên cơ sở khoa học, phù hợp với đặc thù từng môn và từng cá nhân.

Liên đoàn cũng kỳ vọng những tiến bộ này không chỉ phục vụ thể thao thành tích cao mà còn được đưa vào trường học và cộng đồng, giúp trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật có cơ hội vận động phù hợp.

Bởi suy cho cùng, thước đo thành công của khoa học thể thao không chỉ là những tấm huy chương, mà còn nằm ở việc giúp con người tập luyện hiệu quả, an toàn và duy trì sức khỏe lâu dài.

ĐẠI HỘI THỂ THAO TOÀN QUỐC 2026: NHỮNG THÔNG TIN CẦN BIẾT

Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026 là sự kiện thể thao lớn nhất cả nước, được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần. TP.HCM là địa phương đăng cai chính, sau 20 năm kể từ lần gần nhất đảm nhận vai trò này. Các cuộc tranh tài còn được tổ chức tại Đồng Nai, Đồng Tháp và Hà Nội.

Đại hội có 48 môn thể thao, 973 nội dung tranh huy chương, quy tụ 36 đoàn, gồm 34 tỉnh, thành phố và hai ngành công an, quân đội. Dự kiến có khoảng 12.000 cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên, 2.000 trọng tài tham gia, cùng khoảng 200.000 lượt khách mời, cổ động viên và du khách.

Ban tổ chức bố trí 34 địa điểm thi đấu, gồm 31 địa điểm tại TP.HCM và 3 địa điểm phối hợp ở các địa phương khác.

Theo kế hoạch, chương trình chính diễn ra từ ngày 14-11 đến 12-12-2026, nhưng một số môn thi đấu sớm. Môn muay mở màn từ ngày 20-10, chính thức khai mạc môn ngày 22-10. Lễ khai mạc toàn Đại hội dự kiến diễn ra tối 21-11 tại công viên bờ sông Sài Gòn (TP.HCM), lễ bế mạc ngày 12-12 tại Nhà thi đấu Phú Thọ. Đại hội là dịp đánh giá công tác đào tạo, huấn luyện, phát hiện tài năng và tuyển chọn lực lượng kế cận cho thể thao Việt Nam.

Khoa học thể thao đã giúp họ bứt phá thế nào? - Ảnh 5.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề